Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học thành phố Đà Nẵng.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Thành Điện Hải

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Hồng Hải (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:13' 14-11-2009
Dung lượng: 29.0 KB
Số lượt tải: 53
Số lượt thích: 0 người
THÀNH ĐIỆN HẢI

Nằm ở trung tâm thành phố, về phía hữu ngạn sông Hàn, thành Điện Hải hiện nay nằm trong khu đất được giới hạn bởi bốn trục đường Trần Phú ở phía đông, Nguyễn Chí Thanh ở phía tây, Lý Tự Trọng ở phía bắc và Quang Trung ở phía Nam (thuộc địa bàn phường Thạch Thang, quận Hải Châu).
Thành được xây theo kiểu kiến trúc Vauban, thành có dạng hình vuông, có phần lồi ra tại bốn góc, quanh thành là hệ thống hào rộng và sâu, có cầu bắc qua để ra vào thành. Thành Điện Hải là một công trình kiến trúc quân sự thời Nguyễn còn lại duy nhất ở Đà Nẵng hiện nay.
Trước thế kỷ XIX, Đà Nẵng vốn được coi là một cửa ngõ trọng yếu và là một thương cảng giàu tiềm năng. Khi triều đình Nguyễn được xác lập và định đô tại Huế, vùng Quảng Nam được coi là “quận chân tay”, là phên giậu của kinh đô từ phía nam, vị thế của Đà Nẵng vì thế càng trở nên quan trọng. Bởi vậy, các vua triều Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng đến Thiệu Trị, Tự Đức đã cho xây dựng và củng cố các hệ thống bảo, đài, thành lũy tại Đà Nẵng nhằm kiểm soát và phòng thủ cửa biển quan trọng này. Trong hệ thống đó, thành Điiện Hải được coi là một thành lũy kiên cố lớn nhất và có vai trò lịch sử to lớn.
Thành Điện Hải đầu tiên được gọi là đài Điện Hải, do vua Gia Long cho xây vào năm thứ 12 (1813), cùng lần với bảo An Hải. Đài được đắp bằng đất, lại gần sát bờ biển nên hàng năm thường bị nước biển xói lở, cho dù đã được gia cố bằng việc đóng cọc xây đá. Vì vậy vào tháng 2 năm Quí Mùi, Minh Mạng thứ 4 (1823), đài được dời về phía nam cách vị trí cũ 50 trượng (khoảng 200m), trên một khu đất cao rộng (tức vị trí hiện nay). Phục vụ xây đài có 5000 người dân được huy động làm việc hàng tháng dưới sự chỉ đạo, trông coi của Phó đô đốc chế Tả dinh quân Thần sách Nguyễn văn Trí và Tham tri binh bộ Nguyễn Khoa Minh. Đài cao 12 thước, ngoài quách cao 7 thước, trong đài có dựng nhà quân trú phòng và kho thuốc đạn. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), đài Điện Hải được đổi tên thanh thành Điện Hải.
Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), thành được xây dựng lại có chu vi 139 trượng, cao 1 trượng 2 thước, hào sâu 7 thước, mở 3 cửa, dựng một kỳ đài và đặt 30 ụ đại bác, có kho xưởng phục vụ các hoạt động quân sự.
Sáng ngày 1-9-1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đã nã pháo tấn công Đà Nẵng. Ngay từ những năm đầu, thàn Điện hải dưới dưới sự chỉ huy của Quyền chưởng doanh hổ oai Đào trí cùng án sát Lê văn Phố, Bố chánh Lê văn Nhiếp hội đồng với Tổng đốc Nam Ngãi Trần Hoằng chống giữ quyết liệt. Quân ta trong thành, vũ khí thô sơ, lạc hậu, đại bác là loại đại bác cổ gây tiếng nổ lớn và sát thương, quân lính chủ yếu là dùng dao gài, có bộ phận nhỏ được trang bị súng điều thương, giống như súng kíp nhưng với lòng yêu nước quật cường, tất vả đều lăn xả vào chiến đấu quyết giữ thành. Hôm sau, ngày 2-9, chúng tiếp tục pháo kích, tấn công thành. Nhưng chúng đã bị quân ta đánh trả quyết liệt, chặn đứng các đợt tấn công của chúng. Thành Điện Hải vẫn giữ được sau khi đã bị pháo địch đánh phá nhiều. Về sau, do quá chênh lệch về sức mạnh quân sự, cùng với nhiều đồn lũy khác ở vùng cửa biển, chúng ta buộc phải rời thành lùi quân vào nội địa, xây dựng hệ thống phòng thủ mới, triển khai phục kích địch. Tuy chiếm được thành Điện Hải, nhưng quân địch luôn ở thế bị bao vây, nhất là khi tướng Nguyễn Tri phương được điều động làm Tổng đốc quân thứ Quảng Nam áp dụng chiến thuật phục binh tiêu hao, từng bước ngăn chặn đường tiến quân, đẩy lùi những trận càn quét lớn và đã giành được nhiều thắng lợi. Sau khi địch quay trở lại tấn công Đà Nẵng vào tháng 4-1859, tại Điện Hải, quân ta đã đắp lũy và đặt phục binh áp sát thành và đánh tiêu hao nhiều sinh lực địch, cản các bước tấn công, càn vào nội địa.
Sau hơn 18 tháng tấn công Đà Nẵng, quân Pháp đã rơi vào thế bị vây hãm, bị động đối phó với cac đợt tấn công của ta, cuối cùng buộc chúng phải thu quân rời Đà Nẵng, vào tháng 3-1860.
Trước khi rút quân chúng đã phá hủy nhiều đồn lũy của ta, trong đó có thành Điện Hải. Nhưng may mắn hơn nhờ được xây dựng một cách
 
Gửi ý kiến